Cty Giang Vinh

Cty Giang Vinh PHÂN PHỐI PHỤ TÙNG Ô TÔ TRUNG QUỐC Chúng tôi rất mong nhận được sự quan tâm và hợp tác của Quý khách hàng trong thời gian tới.

Công ty Cổ phần Thương mại và Kỹ thuật Giang Vinh được thành lập tại Hà nội với tên giao dịch: GVTech hoạt động trong các lĩnh vực:

+ Giám định xe cơ giới, giám định tài sản,
+ Mua bán ôtô, máy móc thiết bị thi công công trình,
+ Cung cấp phụ tùng, động cơ chính hãng cho các dòng xe tải, xe đầu kéo, xe công trình như: Faw, Dongfeng, Howo, Foton, Cam C, Jac, XCMG, CIMC, Liugong, Yuchai, Fawde, Cu

**in, Weichai…Và dòng tải nhỏ: Veam, Hoa mai, Chiến thắng, Giải Phóng, Vinaxuki, Auman, Aumark...

Được thừa hưởng kinh nghiệm từ các Công ty đi trước và với phương châm mang chất lượng phục vụ – Giá cả hợp lý là tiêu trí hàng đầu, chúng tôi sẽ nỗ lực để phục vụ khách hàng và xây dựng củng cố thương hiệu của Công ty chúng tôi ngày càng vững mạnh.

19/03/2015

Để giúp các bạn trang bị đầy đủ kiến thức về luật an toàn giao thông, tôi tổng hợp lại những thông tin về các lỗi vi phạm luật giao thông KHI ĐI XE MÁY thường gặp và mức xử phạt cụ thể cho từng lỗi đó Theo Nghị định số 171/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ – đường sắt có hiệu lực từ ngày 01/01/2014:

1. Sử dụng ô, điện thoại di động, thiết bị âm thanh: phạt từ 60 – 80 ngàn đồng

2. Vượt đèn đỏ: phạt từ 200 – 400 ngàn đồng

3. Vượt đèn vàng khi sắp chuyển sang đèn đỏ: phạt từ 100 – 200 ngàn đồng

4. Chuyển làn đường không đúng nơi được phép hoặc không có tín hiệu báo trước: phạt từ 80 – 100 ngàn đồng

5. Không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường, làn đường quy định hoặc điều khiển xe đi trên hè phố: phạt từ 200 – 400 ngàn đồng

6. Quay đầu xe tại nơi cấm quay đầu xe: phạt từ 80 – 100 ngàn đồng

7. Không sử dụng đèn chiếu sáng khi trời tối hoặc khi sương mù, thời tiết xấu hạn chế tầm nhìn: phạt từ 80 – 100 ngàn đồng

8. Chạy quá tốc độ quy định từ 05 km/h đến dưới 10 km/h: phạt từ 100 – 200 ngàn đồng

9. Người điều khiển, người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm hoặc đội mà cài quai không đúng quy cách: phạt từ 100 – 200 ngàn đồng

10. Chở người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm hoặc đội mà cài quai không đúng quy cách: phạt từ 100 – 200 ngàn đồng

11. Chở 2 người trên xe: phạt từ 100 – 200 ngàn đồng

12. Chở theo 3 người trở lên trên xe: phạt từ 200 – 400 ngàn đồng

13. Không giữ khoảng cách an toàn để xảy ra va chạm với xe chạy liền trước hoặc không giữ khoảng cách theo quy định của biển báo hiệu “Cự ly tối thiểu giữa hai xe”: phạt từ 60 – 80 ngàn đồng

14. Đi vào đường cao tốc không dành cho xe máy: phạt từ 200 – 400 ngàn

15. Không chấp hành hiệu lệnh, hướng dẫn của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông: phạt từ 200 – 400 ngàn

16. Điều khiển xe chạy dàn hàng ngang từ 03 xe trở lên: phạt từ 80 – 100 ngàn

17. Chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h: phạt từ 500 ngàn đến 1 triệu

18. Trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở: phạt từ 500 ngàn đến 1 triệu

19. Sử dụng chân chống, vật khác quệt xuống đường khi xe đang chạy: phạt từ 2 triệu đến 3 triệu

20. Chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h: phạt từ 2 triệu đến 3 triệu

21. Trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở: phạt từ 2 triệu đến 3 triệu

Các lỗi liên quan đến giấy tờ, độ tuổi điều khiển xe:

22. Điều khiển xe máy khi chưa đủ 16 tuổi: Phạt cảnh cáo.

23. Từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô từ 50cm3 trở lên. Phạt tiền từ 400.000 đến 600.000.

24. Điều khiển dưới 175cm3 không có GPLX, sử dụng GPLX không do cơ quan có thẩm quyền cấp, GPLX hoặc bị tẩy xóa. Phạt tiền từ 800.000 đến 1.200.000. Đồng thời tịch thu GPLX không hợp lệ

25. Điều khiển xe từ 175cm3 trở lên không có GPLX, sử dụng GPLX không do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc bị tẩy xóa. Phạt tiền từ 4.000.000 đến 6.000.000. Đồng thời tịch thu GPLX không hợp lệ.

26. Không mang theo Giấy phép lái xe. Phạt tiền từ 80.000 đến 120.000.

27. Không mang theo Giấy đăng ký xe. Phạt tiền từ 80.000 đến 120.000.

28. Điều khiển xe không có Giấy đăng ký xe. Phạt tiền từ 300.000 đến 400.000.

29. Sử dụng Giấy đăng ký xe bị tẩy xóa; Không đúng số khung, số máy hoặc không do cơ quan có thẩm quyền cấp. Phạt tiền từ 300.000 đến 400.000. Đồng thời tịch thu Giấy đăng ký không hợp lệ.

30. Không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới. Phạt tiền từ 80.000 đến 120.000.

Lưu ý: Nghị định 171/2013/NĐ-CP không còn quy định về mức phạt thí điểm (Cao hơn) đối với một số hành vi vi phạm giao thông trong nội ô của các thành phố trực thuộc trung ương (Như quy định cũ tại Nghị định 71/2012/NĐ-CP). Tức là mọi hành vi vi phạm đều áp dụng một mức phạt chung thống nhất trên toàn quốc.
ST

05/05/2013

Công nghiệp ô tô: Tầm nhìn đến năm 2030- Kỳ II
Mục tiêu quy hoạch phát triển ngành công nghiệp (CN) ô tô lần này mà Bộ Công Thương trình Chính phủ là lựa chọn được phương án phát triển CN ô tô Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 hiệu quả, ổn định và bền vững, phù hợp với bối cảnh quốc tế và khu vực...
CôngThương - Kỳ II- GẤP RÚT CHO LỘ TRÌNH HỘI NHẬP

Mục tiêu của quy hoạch phát triển ngành CN ô tô lần này mà Bộ Công Thương trình Chính phủ là lựa chọn được phương án phát triển CN ô tô Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 hiệu quả, ổn định và bền vững, phù hợp với bối cảnh quốc tế và khu vực, phù hợp với các cam kết của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đủ khả năng đáp ứng phần lớn nhu cầu trong nước về các loại xe tải, xe khách thông dụng, một số loại xe con và xe chuyên dụng và tham gia xuất khẩu xe nguyên chiếc; đồng thời trở thành nhà cung cấp một số loại cụm chi tết, phụ tùng, linh kiện cho công nghiệp ô tô thế giới; góp phần giảm nhập siêu và thúc đẩy các ngành công nghiệp khác phát triển.

Mục tiêu cụ thể

Tỷ lệ số lượng xe sản xuất, lắp ráp trong nước so với nhu cầu nội địa:

Chỉ tiêu


Sản xuất, lắp ráp đáp ứng nhu cầu (%)

2015


2020


2030

Tổng nhu cầu xe


73


60


65

Ô tô đến 9 chỗ


70


50


60

Ô tô trên 9 chỗ


96


93


94

Ô tô tải


80


80


80

Xe chuyên dụng


20


20


20

Mục tiêu sản lượng sản xuất các loại xe đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và tốc độ tăng trưởng:

Chỉ tiêu


Sản lượng xe sản xuất, lắp ráp trong nước (ngàn cái)


Tăng trưởng (%/năm)

2015


2020


2030


13-15


16-20


21-30

Tổng số xe


121,3


256,4


1.563,2


5,92


16,15


19,81

Ô tô đến 9 chỗ


66,1


133,6


1.097,3


4,46


15,11


23,44

Ô tô trên 9 chỗ


6,7


16,3


73,1


16,82


19,53


16,21

Ô tô tải


47,5


104,5


385,9


6,89


17,07


13,96

Xe chuyên dụng


1,0


2,0


6,9


0,56


14,92


12,89

Mục tiêu xuất khẩu ô tô và phụ tùng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030:

Chỉ tiêu


Đơn vị


2015


2020


2030

Tổng lượng xe xuất khẩu


Cái


1.000


12.000


140.000

Tr.đó: Ô tô đến 9 chỗ


Cái


0


5.000


100.000

Ô tô trên 9 chỗ


Cái


500


2.000


10.000

Ô tô tải


Cái


500


5.000


30.000

Xuất khẩu linh kiện, phụ tùng


Triệu USD


2.000


4.000


6.500

Chú trọng phát triển CN hỗ trợ

Rút kinh nghiệm về kết quả không đạt yêu cầu trong phát triển ngành CN hỗ trợ cho phát triển ngành CN ô tô giai đoạn vừa qua, tại quy hoạch mới, Bộ Công Thương đưa ra chỉ tiêu: trong giai đoạn 2011- 2015, định hình cơ bản ngành CN hỗ trợ phục vụ sản xuất lắp, ráp ô tô. Đến 2015, phấn đấu cung ứng 20-25% (về giá trị) linh kiện, phụ tùng cho nhu cầu sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước; đẩy mạnh xuất khẩu, từng bước tham gia hệ thống cung ứng linh kiện phụ tùng ô tô trong khu vực và trên thế giới, xây dựng thương hiệu sản phẩm trên thị trường trong nước và khu vực.

Giai đoạn 2016- 2020, tập trung phát triển mạnh ngành CN hỗ trợ phục vụ sản xuất ô tô, đảm bảo đến năm 2020 có khả năng cung ứng 40-45% linh kiện, phụ tùng (về giá trị) cho nhu cầu sản xuất lắp ráp ô tô trong nước; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của ngành CN ô tô khu vực và thế giới với vai trò nhà cung cấp quan trọng về một số loại phụ tùng, chi tiết, linh kiện.

Giai đoạn 2021- 2030, phát triển ngành CN hỗ trợ cả về quy mô và chủng loại sản phẩm, với công nghệ hiện đại, đủ khả năng cung ứng 50-60% (về giá trị) linh kiện, phụ tùng cho sản xuất lắp ráp ô tô trong nước; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu, có vị trí trong chuỗi giá trị sản xuất của ngành CN ô tô khu vực và thế giới.

Tăng cường nghiên cứu, thiết kế và hợp tác với nước ngoài để đến năm 2020 có thể sản xuất được các chi tiết, linh kiện quan trọng, như: bộ phận truyền động, hộp số; sản xuất, lắp ráp động cơ cho một số chủng loại xe có sản lượng lớn.

Đầu tư dòng xe chủ lực

Như đã đề cập ở trên, do dung lượng thị trường nhỏ, lại phát triển dàn trải với rất nhiều chủng loại xe nên các DN không quan tâm đầu tư phát triển CN hỗ trợ, dẫn đến tỷ lệ nội địa hóa rất thấp. Kinh nghiệm phát triển thành CN ô tô của Thái Lan và Indonesia đều gắn với tập trung phát triển dòng xe chủ lực. Vì vậy, trong giai đoạn đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, ngành CN ô tô Việt Nam sẽ có những lựa chọn, đầu tư phát triển dòng xe chủ lực.

Tuy nhiên, trong bối cảnh nguồn lực trong nước còn hạn chế, thị trường hạn hẹp, ngành CN ô tô muốn thành công phải xác định đầu tư tập trung, có trọng điểm và việc lựa chọn dòng xe chủ lực phải dựa trên các tiêu chí như: tiết kiệm năng lượng, an toàn, thân thiện với môi trường; có nhu cầu lớn trong giai đoạn trước mắt cũng như trong dài hạn thuộc dòng xe dưới 9 chỗ; sản xuất quy mô lớn ≥ 30.000 xe đến năm 2015 và ≥ 100.000 xe năm 2020; có khả năng cạnh tranh trong hội nhập khu vực và thế giới (có khả năng xuất khẩu để dần dần cân bằng ngoại tệ); Có tỷ lệ giá trị nội địa ≥ 40% tính theo thông lệ thế giới; tiêu chuẩn khí thải EURO 4.

Các chương trình, dự án đầu tư ưu tiên trong 5 năm tới:

* Xây dựng tổ hợp sản xuất xe ô tô chủ lực với công suất giai đoạn 1 từ 70-100 ngàn xe/năm.

* Xây dựng hạ tầng 3 khu công nghiệp cơ khí và ô tô.

Quỳnh Minh

05/05/2013

Công nghiệp ô tô: Tầm nhìn đến năm 2030- Kỳ I

Việt Nam đang đến gần theo các cam kết mở cửa thị trường, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam phát triển với hàng loạt con số không đạt chỉ tiêu. Bộ Công Thương đang trình Chính phủ quy hoạch mới về phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam.
Ngày 5/10/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 177/2004/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp (CN) ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 với mục tiêu: Xây dựng và phát triển ngành CN ô tô Việt Nam để đến năm 2020 trở thành một ngành CN quan trọng của đất nước, có khả năng đáp ứng ở mức cao nhất nhu cầu thị trường trong nước và tham gia vào thị trường khu vực và thế giới.

Với quy hoạch đó, từ năm 2004 đến 2010, ngành CN ô tô đã đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở một số nhà máy lắp ráp ô tô với dây chuyền thiết bị tương đối đồng bộ, hiện đại; bước đầu hình thành được đội ngũ công nhân, kỹ thuật viên và kỹ sư lành nghề trong ngành sản xuất ô tô; đã xây dựng được mối quan hệ đối tác chiến lược với các nhà cung cấp trong và ngoài nước để có thể cung cấp nguyên liệu, linh kiện, phụ tùng ổn định, có giá cả cạnh tranh. Có thể thấy, ngành ô tô nước ta đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu trong nước về xe tải và xe khách, các sản phẩm ngày càng có uy tín và nhiều sản phẩm có khả năng cạnh tranh. Ngành ô tô ngày càng khẳng định vai trò và vị trí trong nền kinh tế quốc dân.

Tính đến năm 2012, tổng số các DN sản xuất ô tô trên lãnh thổ Việt Nam là gần 400 DN. Trong số 56 DN lắp ráp ô tô, có 18 DN là thành viên Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA). Các DN sản xuất ô tô tập trung chủ yếu tại vùng Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng sông Hồng. Đa số các DN có quy mô vừa và nhỏ. Theo công suất thiết kế, các DN sản xuất ô tô cả nước có tổng công suất sản xuất lắp ráp xe hiện nay là khoảng 458.000 xe/năm, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 47%, các DN trong nước chiếm 53%.

Năm 2010, cả nước sản xuất 112,3 ngàn xe các loại, cao gấp gần 2 lần năm 2005 và 8,4 lần năm 2000. Tốc độ tăng trưởng bình quân trong 10 năm là 17,44%/năm. Năm 2011, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, sản xuất lắp ráp xe trong nước chỉ đạt 107,9 ngàn xe, giảm 4% so với năm 2010. Năm 2012 số lượng xe lắp ráp trong nước còn 72.749 xe, giảm 31% so với năm 2011.

Các chỉ tiêu bị phá vỡ

Tuy vậy, sau gần 10 năm thực hiện quy hoạch, ngành công nghiệp ôtô cũng đã lộ rõ nhiều bất cập. Các doanh nghiệp tập trung chủ yếu ở khâu lắp ráp, công nghiệp hỗ trợ chưa được chú trọng đúng mức. Hầu hết các chỉ tiêu của quy hoạch đề ra năm 2010 đều không đạt. Đặc biệt, tỷ lệ giá trị nội địa của ô tô sản xuất trong nước rất thấp.

Cụ thể như ngành CN hỗ trợ cho phát triển ngành sản xuất ô tô Việt Nam hình thành và phát triển rất chậm trong giai đoạn vừa qua. Đến 2012, ước tính cả nước có khoảng trên 210 DN tham gia sản xuất các loại linh kiện, phụ tùng ô tô với gần 27 ngàn lao động và tổng tài sản cố định và đầu tư dài hạn của các DN là khoảng 8 ngàn tỷ đồng. Năng lực cạnh tranh quốc tế của CN hỗ trợ sản xuất ô tô còn yếu, nhất là công nghiệp hỗ trợ ngành chưa phát triển, tỷ lệ nội địa hoá thấp là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến việc sản xuất, lắp ráp ô tô trong nước. Các linh kiện, phụ tùng đòi hỏi công nghệ, kỹ thuật cao chưa sản xuất được nên tỷ lệ giá trị nội địa trong ô tô lắp ráp trong nước còn thấp, đặc biệt đối với loại xe dưới 9 chỗ.

Ngoài ra còn phải kể đến hàng loạt các bất cập khác như: sau nhiều năm sản xuất ở Việt Nam, tỷ lệ chuyển giao công nghệ của các công ty nước ngoài đối với sản xuất ô tô trong nước rất thấp. Đến nay, Việt Nam vẫn chưa có DN sản xuất ô tô lớn tầm cỡ khu vực để có thể cạnh tranh và xuất khẩu; sự liên kết, hợp tác, phân công sản xuất của các DN trong ngành còn rất yếu nên không phát huy được sức mạnh, lợi thế của từng DN dẫn đến năng lực cạnh tranh kém; các chính sách phát triển chưa phù hợp nên các DN ô tô chủ yếu hoạt động theo phương thức lắp ráp, tỷ lệ nội địa hóa...

Áp lực hội nhập đang ngày càng tới rất gần, năm 2018 (chỉ còn 5 năm nữa) là năm mà theo các cam kết AFTA, thuế nhập khẩu xe ô tô nguyên chiếc sẽ giảm về 0%. Với xu hướng đó, không loại trừ khả năng một số DN ô tô ở Việt Nam đang chuẩn bị cho động thái rút khỏi thị trường, chuyển từ lắp ráp sang hoạt động thuần túy thương mại. Khi đó, Việt Nam sẽ trở thành thị trường tiêu thụ ô tô cho các hãng nước ngoài. Áp lực nhập siêu của nền kinh tế sẽ ngày càng gia tăng.

Trước thực tế này, Chính phủ giao cho Bộ Công Thương lập lại Quy hoạch phát triển ngành CN ô tô Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (theo Thông báo số 5047/VPCP-KTN ngày 20 tháng 7 năm 2010 của Văn phòng Chính phủ).

Quỳnh Minh

Address

KDT Mỹ Đình II/Lê Đức Thọ/P. Mỹ Đình 2/Q. Nam Từ Liêm
Từ Liêm
70000

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Cty Giang Vinh posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Business

Send a message to Cty Giang Vinh:

Share